Lạ lùng người con gái 30 năm canh giữ bên mộ cha

Trong đạo hiếu ngày xưa có quy định về việc con canh mộ cha. Khi người bố qua đời thì người con trai trưởng phải dựng lều bên mộ bố, túc trực canh giữ suốt ba năm. Ba năm đi chân đất, mặc áo vải sô, ăn uống đạm bạc, ba năm không uống rượu, ba năm không gần nữ sắc. Trong ba năm đó, kể cả có chiếu chỉ của nhà vua cũng không phải chấp hành. Như vậy, quy định này trong đạo hiếu đã trở thành quốc pháp. Nhưng đó là chuyện thời xa xưa và cũng chỉ là việc dành riêng cho đàn ông. Còn trong thời đại ngày nay mà có một người con gái 30 năm ròng canh bên mộ cha là chuyện lạ lùng nhất ở nước ta, từ cổ chí kim chưa thấy.

Người con gái này là bà Nguyễn Thị Sinh, sinh năm 1947, trú quán làng Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Gọi làng Thanh Mai là trú quán của bà Sinh vì nguyên quán của bà không ở đây mà ở làng Đại Yên, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội. Cuối năm 1946, giặc Pháp tấn công Hà Nội, Bác Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, người Hà Nội sơ tán về các làng quê. Một ngày đầu tháng 4/1947, trong khi chạy giặc, bà Lê Thị Tuyết – vợ ông Nguyễn Đức Cần đẻ rơi đứa con gái thứ hai trên bãi ngô cánh đồng làng Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Đông cũ. Bà Tuyết ôm đứa con gái còn đỏ hỏn vào ở nhờ dưới mái hiên ngôi đình thôn My Hạ. Do chạy giặc vất vả và ăn uống thiếu thốn nên bà Tuyết bị

mất sữa. Không có sữa bú, bé gái sơ sinh khóc suốt đêm, khiến nhiều người thôn My Hạ khó ngủ. Người khó ngủ nhất là vợ ông Bùi Văn Hồ, nhà ở sát đình thôn. Bà Hồ cũng vừa sinh một đứa con gái nhưng chỉ bốn ngày sau thì cháu đã bỏ cha mẹ mà đi. Ôm hai bầu vú căng đầy sữa, bà Hồ vừa thương đứa con đã mất lại vừa thương đứa bé khát sữa đang khóc ngằn ngặt ngoài đình. Bà Hồ nhổm dậy, cầm ngọn đèn dầu đi ra đình thôn cho đứa bé khát sữa bú nhờ. Đứa bé bập vào bầu sữa của bà Hồ, mút lấy mút để rồi sau đó ngủ rất ngoan. Bà Hồ đã ba lần sinh nở và cả ba lần con đầu chết yểu. Có người nói rằng, bà nhà phải xin con nuôi rồi sau đó mới nuôi được con đẻ. Bà Hồ về nhà bàn với chồng ra đình thôn thưa chuyện với bà Tuyết xin nhận bé gái sơ sinh làm con nuôi. Đứa bé gái sơ sinh ấy chính là bà Nguyễn Thị Sinh ngày nay.

Ngôi mộ mà bà Sinh làm nhà trông coi suốt 30 năm qua là linh phần của cụ Nguyễn Đức Cần, còn gọi là cụ Trưởng Cần – thân phụ của bà Sinh. Cụ Trưởng Cần là một nhân vật rất đặc biệt, một con người có thật mà đời sống như huyền thoại. Cụ Nguyễn Đức Cần sinh vào đêm 30 Tết Kỷ Dậu, niên hiệu Duy Tân thứ ba (1909), là con trai của cụ Phó tổng Nguyễn Đức Nhuận và bà Hoàng Thị Khế.

Khi Nguyễn Đức Cần học năm cuối trường Anbe Xarô (mang tên toàn quyền Pháp), thì cụ Nhuận mắc một chứng bệnh rất lạ. Các quan đốc tờ người Pháp không biết đó là bệnh gì, chỉ thấy trong bụng ông Nhuận có một cái u nổi to như quả trứng gà và chạy lung tung trong khoang bụng, gây đau đớn khủng khiếp. Không bó tay ngồi chờ chồng chết, bà Hoàng Thị Khế chạy khắp nơi tìm thầy thuốc giỏi về cứu chồng. Một ngày nọ, bà Khế đã mời được một cụ già râu tóc trắng như mây, mặt mũi quắc thước, mắt sáng như sao về nhà để chữa bệnh cho chồng.

Bà Khế không hề thấy ông thầy này cho ông Nhuận uống loại thuốc gì cả, chỉ thấy thầy đặt bàn tay phải lên bụng ông Nhuận the màkho i u của ông Nhuận teo da n ro i sau ba hôm thı̀ma t ha n. Bà Khế mang nhiều tiền bạc tạ ơn thầy nhưng người thầy thuốc này kiên quyết từ chối, nói rằng chỉ đi chữa bệnh cứu người làm phúc chứ không vụ lợi. Cảm phục tài đức của người thầy này, bà Hoàng Thị Khế xin cho cậu con trai là Nguyễn Đức Cần theo hầu thầy, học hỏi mong có ngày trưởng thành giúp ích cho đời. Sau khi ngắm kỹ cậu thiếu niên Nguyễn Đức Cần, người thầy tài ba này đã gật đầu, nhận cậu Cần làm học trò. Người thầy kỳ tài này đưa Nguyễn Đức Cần ra đi mà không để lại danh tính và địa chỉ.

Thầy đưa Nguyễn Đức Cần băng rừng lên đỉnh núi Tản Viên và nói rằng: “Con phải nhớ rằng, nơi đây là linh khí của nước Việt”. Ở đây, thầy dạy Nguyễn Đức Cần luyện phép thần nhãn. Mỗi sáng đứng lên đı̉nh núi Tản vào lúc mặt trời mọc vàlúc chı́nh Ngọthı̀luyện ma t ba ng thứánh nắng chói chang nhất. Thầy cho Nguyễn Đức Cần luyện phép thần nhãn, trong nhiều ngày, cho tới khi mắt nhìn thấy thanh khí trong trời đất mới thôi. Từ Tản Viên, thầy đưa Nguyễn Đức Cần đến vùng Thác Bờ, Hoà Bình và ở đây Nguyễn Đức Cần được thầy truyền cho phép hấp thụ tuệ quang tức là nhận năng lượng từ các vì tinh tú trên trời cao. Rồi từ Thác Bờ, thầy đưa Nguyễn Đức Cần lên Sơn La, sau đó sang vùng thượng Lào. Ở đây có một ngôi đền thiêng thờ Đức Lê Sơn Thánh Mẫu và Nguyễn Đức Cần đã tu trong ngôi đền đó một thời gian dài cho tới khi thầy nói: “Đã đến lúc con phải về nhà. Mẹ con đang mong nhớ từng ngày. Nay con đã đủ sức tự lập, nhưng lúc nào khó khăn, ta vẫn ở bên con”.

Khả năng chữa bệnh bằng nhân điện của cụ Nguyễn Đức Cần được hình thành như vậy. Đây không phải là một thứ lộc trời ban cho mà là kết quả của một quá trình tu luyện gian khổ với sự giảng dạy vàchân truye n của một người thay cao siêu. Chữa bệnh ba ng nhân điện làdùng năng lượng bản thân truyền cho người khác để chiến thắng bệnh tật. Nếu không hấp thụ được, nguồn năng lượng lớn của trời đất thì không thể chữa bệnh bằng nhân điện. Cách chữa bệnh của cụ Trưởng Cần là không dùng một loại thuốc nào. Có khi cụ đặt bàn tay vào chỗ đau của người bệnh, có khi cụ cho một tờ giấy, viết vài chữ, gọi là đạo để bệnh nhân bỏ trong người.

Ông Nguyễn Văn Nhân, ở xóm Hồng, xã Khương Đình, Hà Nội kể: “Năm 1951, nhà tôi sinh cháu gái đầu lòng bị chết, sau đó bị điên. Bà dì tôi tu ở chùa Hàng Cót nói rằng, ở làng Đại Yên có cụ Trưởng Cần chữa bệnh không dùng thuốc mà bệnh gì cũng khỏi. Rồi dì đưa vợ chồng chúng tôi

đến nhà cụ, thấy người đến xin chữa bệnh đông lắm. Cụ cho nhà tôi một mảnh giấy để làm tin, và để trong người cho thần kinh ổn định. Khi tôi về đến nhà thì vợ tôi không nói năng lảm nhảm nữa nhưng vẫn ngớ ngẩn. Tôi lại đưa vợ lên xin cụ cứu giúp. Bốn tháng sau thì nhà tôi tự lên được Đại Yên để chữa bệnh và một năm sau thì khỏi hẳn”.

Sau đây lời kể của bác sĩ Hoàng Thị Phúc ở số nhà 25K phố Phan Đình Phùng, Hà Nội: “Cứ 3-4 hôm, tôi lại bị một cơn đau tim thắt ngực rất ghê sợ, điều trị mãi ở các bệnh viện mà không khỏi. Nghe mọi người mách, tôi gặp cụ Nguyễn Đức Cần để chữa bệnh. Lần đầu gặp, cụ dạy rằng tất cả do cái đầu, khi cái đầu ổn định thì mọi việc đều giải quyết được. Cụ còn nói: ‘Tôi chữa bệnh không lấy tiền. Nếu bà khỏi thì thôi, chưa khỏi thì tháng sau lên tôi giúp tiếp’, cụ nói thế rồi bảo tôi về. Tôi thấy lạ lùng vì thấy cụ không thăm khám gì cả, cũng không cho thuốc gì. Nhưng thật lạ, khi rời khỏi cửa nhà cụ, tôi thấy người khoẻ ra và từ từ đi bộ về nhà được. Trước đây đi vài trăm mét, tôi cũng phải gọi xích lô. Về nhà, tôi chờ đợi những cơn đau tim đến như mọi lần, nhưng sau ba ngày rồi hàng tuần trôi qua mà không có cơn đau nào cả, đến năm 1982, tôi hầu như khỏi hẳn bệnh đau tim. Ngoài bệnh tim, tôi còn được cụ chữa khỏi bệnh thần kinh toạ và chứng bại liệt. Tháng 7/1982, tôi bị liệt hẳn cánh tay phải không thể giơ lên được. Buổi sáng tôi lên gặp cụ thì cụ bảo: ‘Thôi về đi, ông cho khoẻ mà dọn nhà’. Chiều hôm đó trời mưa to, tôi đã xách mấy chục xô nước, cọ rửa sàn nhà bằng chính cánh tay bại liệt trước đây”.

Tiêu điểm

Bài mới đăng