Sữa công thức khác nhau ở chỗ nào?

Có 6 thành phần chính trong sữa công thức: carbohydrate, protein, chất béo, vitamin, khoáng chất và các chất dinh dưỡng khác.

Điều làm cho   sữa công thức của thương hiệu này khác với sữa công thức của thương hiệu khác là thành phần carbohydrate và protein cụ thể mà thương hiệu đó sử dụng, cũng như bất kỳ thành phần bổ sung nào mà nó sử dụng. Ví dụ, casein và whey là hai loại protein sữa bò được tìm thấy với tỷ lệ  khác nhau trong các thương hiệu khác nhau của loại sữa công thức dựa trên sữa bò.

Kết quả hình ảnh cho Sữa công thức

Rất dễ bị rối bởi tất cả các thành phần được liệt kê trên nhãn thành phần của sản phẩm. Dưới đây, chúng tôi hướng dẫn bạn thông qua nhiều loại thành phần khác nhau và so sánh chúng với những thành phần được   tìm thấy trong sữa mẹ.

Carbohydrate: Lactose là carbohydrate chính trong cả sữa mẹ và sữa công thức dựa trên sữa bò. Maltodextrin từ bắp/ngô đôi khi cũng được sử dụng như một nguồn carbohydrate phụ trong sữa công thức. Các loại sữa công thức không chứa lactose, sữa công thức từ đậu nành và sữa công thức đặc biệt có chứa một hoặc nhiều loại carbohydrate sau: sucrose, maltodextrin từ bắp, tinh bột bắp biến đổi hoặc xi-rô bắp dạng rắn.

Protein: Sữa mẹ chứa khoảng 60% whey và 40% casein. Hầu hết các loại sữa công thức có hàm lượng protein tương tự. Các loại sữa khác có thể chứa 100% whey.

Kết quả hình ảnh cho Sữa công thức

Sữa công thức từ đậu nành có chứa protein isolate từ đậu nành. Một số thương hiệu sử dụng protein đậu nành thủy phân một phần để dễ tiêu hóa hơn.

Đôi khi các protein trong các loại sữa công thức được thủy phân một phần, hoặc được cắt ngắn mạch. Các loại sữa công thức thủy phân một phần không phải là không gây dị ứng, đừng sử dụng loại sữa này nếu em bé của bạn bị dị ứng protein, hoặc thậm chí nếu bạn nghi ngờ bé có thể bị dị ứng. Tuy nhiên, so với sữa công thức tiêu chuẩn từ sữa bò, sữa công thức thủy phân một phần đã được chứng minh trong các nghiên cứu là có thể làm giảm viêm da dị ứng.

Sữa công thức thủy phân hoàn toàn có chứa các protein được bẻ gãy  hoàn toàn thành các khối cơ bản (axit amin), do đó cho phép bé hấp thụ được dễ dàng. Các loại sữa công thức này được coi là hầu như không  gây dị ứng và được sử dụng cho những bé bị dị ứng protein.

Chất béo: Sữa mẹ có chứa một sự pha trộn giữa chất béo không bão hòa đơn, không bão hòa đa và chất béo bão hòa. Sữa công thức sử dụng nhiều loại dầu khác nhau để bắt chước chất béo trong sữa mẹ. Chúng bao gồm dầu đậu nành, dầu dừa, dầu cọ hoặc dầu olein từ cọ, dầu hướng dương có hàm lượng oleic cao.

Mặc dù dầu cọ và dầu olein từ cọ được sử dụng rộng rãi, nghiên cứu đã chỉ ra rằng những chất béo này có thể làm giảm sự hấp thu của chất béo và canxi. Điều này có nghĩa là bé sẽ không hấp thụ nhiều chất béo và canxi từ sữa công thức chứa dầu này như là trường hợp bé hấp thụ từ những loại sữa công thức khác không chứa dầu này.

Các triglyceride chuỗi trung bình dễ tiêu hóa và dễ hấp thụ hơn. Chúng được sử dụng trong các loại sữa công thức đặc biệt cho trẻ sinh non và trẻ sơ sinh có các vấn đề về tiêu hóa hoặc hấp thụ chất dinh dưỡng.

FDA (Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) đã phê chuẩn việc bổ sung hai loại axit béo chuỗi dài vào sữa công thức: DHA (axit docosahexaenoic) và ARA (axit arachidonic) và bây giờ chúng đã trở thành thành phần tiêu chuẩn trong sữa công thức. Cả hai chất này được tìm thấy trong sữa mẹ khi chế độ ăn uống của người mẹ đầy đủ, và cả hai đều quan trọng đối với sự phát triển của não và mắt.

Kết quả hình ảnh cho Sữa công thức

Trẻ nhận được DHA và ARA từ mẹ trong 3 tháng thai kỳ thứ ba, nhưng quá trình này bị cắt ngắn nếu bé bị sinh non. Tất cả các bé cần một  nguồn cung cấp ổn định của cả hai chất này trong suốt năm đầu tiên của chúng.

Nhiều nghiên cứu củng cố ủng hộ cho việc bổ sung sữa công thức với DHA và ARA. Một trong số đó là một báo cáo được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Hoa Kỳ, báo cáo cho thấy những bé sinh đủ    tháng được cho bú sữa công thức có bổ sung DHA và ARA có thị lực  tốt hơn đáng kể hơn so với những bé không nhận được hai chất này. Và   một nghiên cứu công bố trên Tạp chí Nhi khoa chỉ ra rằng DHA và ARA tăng cường sự tăng trưởng cả về nhận thức và thể chất ở trẻ sinh non.

Chưa có nghiên cứu dài hạn nào khẳng định sự an toàn của hai chất này, mặc dù cũng không có bằng chứng nào cho thấy rằng chúng có hại cho trẻ sơ sinh. Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (The American Academy of Pediatrics – AAP) không nghiên về việc đánh giá xem liệu các axit béo  này có nên được bổ sung vào sữa công thức hay không, nhưng tổ chức này có chỉ ra rằng các axit béo này được tin là quan trọng cho sự phát triển của não và mắt.

Vitamin và khoáng chất: Hầu hết các chữ trên nhãn thành phần là mô tả các thành phần vitamin và khoáng chất. Những từ này có thể gây khó hình dung – chẳng hạn như ferrous sulfate là sắt, natri ascorbate là vitamin C và canxipantothenate là vitamin B5.

AAP khuyến cáo rằng tất cả các em bé khỏe mạnh không bú sữa mẹ  hoàn toàn nên dùng loại sữa công thức có tăng cường chất sắt cho đến khi chúng được một tuổi. Điều quan trọng là trẻ sơ sinh phải nhận được lượng sắt tối thiểu được đề nghị (0,27 mg hàng ngày cho trẻ 0-6 tháng;  11 mg hàng ngày cho trẻ 7-12 tháng) để phòng ngừa bệnh thiếu máu do thiếu sắt.

Sắt rất quan trọng để giúp cho máu tuần hoàn oxy, là chất mà tất cả các  tế bào của cơ thể đều cần để hoạt động bình thường. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận được đủ chất sắt trong năm đầu tiên của bé rất quan trọng cho sự phát triển của não bộ. Hàm lượng sắt dự trữ của bé được thiết lập trong ba tháng thai kỳ thứ ba, vì vậy trẻ sinh non cần được hỗ trợ thêm từ nguồn bên ngoài để nhận được nhiều chất sắt.

Hầu hết các loại sữa công thức có chứa ít nhất là 4 mg sắt mỗi lít, mặc dù các loại sữa công thức có hàm lượng “sắt thấp” cũng được bày bán trong siêu thị. Những loại sữa công thức đó được xây dựng từ nhiều năm trước vì có những quan niệm sai lầm rằng chất sắt có thể gây ra táo bón. AAP mong muốn các loại sữa công thức có chứa ít sắt phải được ngừng sản xuất hoặc có dán nhãn là dinh dưỡng không đầy đủ.

Các thành phần khác: Dưới đây là các thành phần mà các thương hiệu khác nhau đã tinh chỉnh công thức của họ để làm cho chúng khác với    các thương hiệu khác.

Nucleotide: Đây là những khối cơ bản của DNA và RNA, thành phần tự nhiên có trong sữa mẹ. Chúng có một số chức năng và có thể hỗ trợ trong sự phát triển của hệ thống miễn dịch. Các nhãn hiệu sữa công thức khác nhau có hàm lượng các nucleotide bổ sung khác  nhau.

Tinh bột gạo: tinh bột gạo được bổ sung vào loại sữa công thức “chống trào ngược”. Bác sĩ có thể khuyên bạn nên chọn loại công thức này để giảm bớt hiện tượng trào ngược axit của bé.

Chất xơ: chất xơ đậu nành được bổ sung vào sữa công thức từ đậu nành để điều trị tạm thời bệnh tiêu chảy. Loại sữa công thức duy nhất có chứa chất xơ là Similac dành cho bệnh tiêu chảy, được chứng minh lâm sàng có thể làm giảm thời gian tiêu chảy.

Amino axit: axit amin như taurine, methionine và carnitine được thêm vào sữa công thức từ đậu nành và đôi khi là sữa công thức từ sữa bò để phù hợp với các axit amin trong sữa mẹ.

Tiêu điểm

Những dấu hiệu mệt mỏi của trẻ sơ sinh

Nếu phát hiện con có các dấu hiệu trên tốt nhất bố mẹ cần đưa con đi khám để có được sự tư vấn và xử lý kịp thời của các bác sĩ và những người có ... quá nhiều hoặc quá ít, hoặc nếu trẻ ngủ li bì, đánh thức dậy vẫn rất lờ đờ mệt mỏi, khi mẹ quay đi là lại lịm đi thì phụ huynh nên mang trẻ đi khám bệnh.

Bài mới đăng

[Radio – Hành trình làm mẹ] Làm mẹ thời hiện đại

Chưa bao giờ làm cha mẹ thời hiện đại khó khăn và nhiều thử thách như lúc này. Xã hội bùng nổ công nghệ cho bạn rất nhiều phương tiện nhưng cũng tạo ra vô vàn “cái bẫy”. Làm phụ huynh thời hiện đại chịu rất nhiều sự chi phối của bối cảnh xã hội.